Chương 48 - Chương 48: Tên Cha Trên Bản Đồ
Chương 48: Tên Cha Trên Bản Đồ
Góc lụa dầu dưới tấm ván chỉ lộ ra bằng hai đốt ngón tay. Nước dập lửa chảy qua đó, mang theo tro đen và một vệt mực xanh không tan. Tạ Uyển còn chưa kịp cúi thấp hơn, người Kinh Triệu ngoài sân đã hô đóng cửa kho, chuẩn bị dán niêm hiện trường.
Nàng đứng thẳng dậy. “Chưa được niêm.”
Trần Hữu Nghĩa quay lại. “Tạ chưởng lễ còn muốn tìm gì?”
“Không phải tìm.” Tạ Uyển chỉ xuống rãnh dầu chạy sát chân giá. “Dầu đã thấm dưới ván. Theo lệ khám hỏa kho lễ, nơi có dầu dẫn phải dỡ nền kiểm tàn hỏa trước khi hỏa dịch ký xác nhận đã tắt. Nếu niêm ngay, lửa âm bén lại, người chịu trách nhiệm là người ra lệnh đóng kho.”
Một viên lại Kinh Triệu cau mày. “Hiện trường thuộc Kinh Triệu tiếp quản.”
“Sau khi đội hỏa dịch giao biên bản.” Nàng nhìn người đội trưởng đang cầm móc sắt bên cửa. “Xin hỏi đã kiểm dưới nền chưa?”
Người ấy nhìn rãnh dầu, rồi lắc đầu. Hắn không muốn đứng về phía Tạ Uyển, nhưng càng không thể ký vào một tờ xác nhận giả khi nền kho vẫn còn nóng. Trần Hữu Nghĩa im lặng một nhịp. Nếu hắn ngăn, lời ngăn ấy phải ghi vào sổ cháy; nếu không ngăn, thứ dưới ván có thể lộ. Tạ Uyển thấy rất rõ sự tính toán ấy trên mí mắt hắn.
“Dỡ ba tấm,” hắn nói. “Chỉ ba tấm quanh nguồn hỏa.”
“Đánh số trước khi dỡ.”
Tạ Uyển tự tay vạch một ô phấn quanh chân giá, gọi hai nữ quan đã mang phiếu đình nhận đến đứng hai bên, rồi yêu cầu đội trưởng hỏa dịch ghi giờ, tên người cầm móc và tình trạng từng tấm ván. Nàng không bước vào ô phấn. Chiêu Nghi cũng bị nàng mời lùi ra ngoài ngạch cửa, vì là người được gọi đến đối nhận vật Bắc Yên, không nên chạm vào vật chưa định danh.
Chiêu Nghi nhìn bàn tay nàng. Trên đầu ngón tay Tạ Uyển có một vệt tro nhỏ, nhưng chưa hề chạm xuống nền.
“Ta đã thấy dầu chảy từ phía giá giữa,” công chúa nói. “Có cần ghi lời chứng ngay không?”
“Cần.” Tạ Uyển đáp, mắt vẫn đặt trên ô phấn. “Xin điện hạ chỉ ghi điều mắt thấy.”
Một thoáng rất nhẹ lướt qua ánh mắt Chiêu Nghi. “Ta sẽ không viết thay cô.”
Câu ấy chìm trong tiếng móc sắt cạy gỗ. Tấm ván thứ nhất bật lên, hơi nóng và mùi dầu trám xộc ra. Tấm thứ hai phía dưới đen hoàn toàn, nhưng không có than âm. Đến tấm thứ ba, đầu móc chạm phải một thanh đồng mỏng giấu ngang dưới xà đỡ. Đội trưởng hỏa dịch dừng tay, đổi sang kẹp dài, nhấc thanh đồng lên. Bên dưới là một rãnh nông vừa đủ đặt một cuộn lụa gấp bốn, được bọc bằng lớp dầu chống ẩm.
Phó Cẩn đã nói đúng. Vật cần tìm không ở trong hòm.
Tạ Uyển yêu cầu đặt một khay đồng sạch ngay sát ô phấn. Người hỏa dịch dùng kẹp gắp bọc lụa lên, không ai được chạm tay. Lớp ngoài cháy mất gần nửa, mép còn lại dính chặt vào nhau. Khi được trải vừa đủ trên khay, những đường núi, sông và dịch trạm hiện ra dưới lớp khói xám. Một đường cong men theo Kỳ Hà, hai dấu tam giác chếch đông nằm đúng vị trí các trạm kiểm niêm, còn góc dưới là hai ô vuông lệch mà Tạ Uyển đã thấy trên khăn A Nhiễm và chiếc khóa thành.
Bên cạnh ô vuông phía hữu có bốn chữ còn nguyên: “bản mộc tuyến bắc”.
Tạ Uyển nghe tiếng nước nhỏ từ mái xuống khay. Nàng không cần nhìn thêm vẫn biết đây là thứ Bắc Yên muốn lấy: không chỉ tên một thành, mà là đường ngựa, đường lương và thời gian nối ba tuyến tiếp viện quanh Tĩnh Bắc.
Một nữ quan cúi sát để chép chữ, bỗng khựng lại. Ở mép lụa cháy xém có một hàng mực nhỏ hơn, nét đầu mạnh, nét sau thu vào trong. Nước đã làm nhòe hai chữ giữa, nhưng phần còn lại vẫn đủ đọc:
“… nghi giá. Tạ Văn Khiêm kiểm đối, Thừa Đức tứ niên.”
Ba chữ tên người nằm giữa bản đồ như một lưỡi dao đặt ngang cổ họng nàng.
Tạ Uyển từng thấy phụ thân viết tên mình trên bìa sách học và những tờ công vụ cũ. Chữ “Khiêm” luôn khép nét cuối vào trong, như sợ mực đi quá mép giấy sẽ làm liên lụy người bên cạnh. Nét ấy trên lụa cũng khép như vậy.
Trần Hữu Nghĩa bước tới một bước. “Tạ Văn Khiêm.”
Hắn không đọc hai chữ “kiểm đối”. Hắn chỉ đọc cái tên.
“Cha của Tạ chưởng lễ từng giữ bản đồ phòng tuyến.” Giọng hắn vừa đủ lớn để cấm vệ ngoài sân nghe thấy. “Hôm nay con gái ông ta biết chính xác hòm ở gian thứ ba, phát phiếu đình nhận trước khi cháy, rồi tự tay buộc dỡ nền để lấy vật có tên cha mình.”
“Ta không tự tay lấy.” Tạ Uyển nói. “Tên người cầm kẹp, người chứng và giờ lấy đều đã ghi.”
“Nhưng cô là người chỉ chỗ.”
“Dầu chỉ chỗ.”
Trần Hữu Nghĩa cười nhạt. “Một rãnh dầu lại biết gọi đúng tên Tạ gia sao?”
Chiêu Nghi định bước qua ngạch cửa. Tạ Uyển không quay lại, chỉ đặt hai ngón tay lên mép cuốn biên bản. Đó là động tác nàng vẫn dùng trước mỗi lần tuyên đọc một điều khoản: chưa đến lượt người khác nói. Chiêu Nghi dừng lại. Nàng không lùi, nhưng cũng không cướp lấy lựa chọn của Tạ Uyển.
Tạ Uyển cúi nhìn hàng chữ lần nữa. Phần đầu bị cháy chỉ còn một nét móc và hai chữ cuối “nghi giá”. Nếu nguyên câu là “không được nhập nghi giá”, thì cha nàng không giữ bản đồ để bán. Ông đã phát hiện có người muốn giấu bản mộc tuyến bắc trong đoàn lễ. Nhưng phần chứng minh quan trọng nhất đã cháy mất, còn tên ông lại nguyên vẹn đến tàn nhẫn.
“Ghi đủ những chữ còn thấy,” nàng nói với nữ quan. “Chỗ mất phải khoanh trống, không được tự nối. Ghi cả vị trí chữ ‘kiểm đối’ so với tên người.”
Trần Hữu Nghĩa đưa tay chặn bút. “Vật liên quan quân cơ, Nội Lễ không được sao.”
“Đây là biên bản tổn thất của kho lễ. Không sao bản đồ, chỉ trích chữ hiện trạng.” Tạ Uyển ngẩng lên. “Nếu Lễ bộ muốn bỏ hai chữ ‘kiểm đối’, xin Trần lang trung ghi rõ chính mình yêu cầu bỏ.”
Bàn tay hắn dừng giữa không trung.
Tiếng giày quan từ ngoài sân vọng vào. Tưởng Thừa Ân xuất hiện sau hàng cấm vệ, áo bào sẫm không dính khói, nhưng gấu áo có bùn mới. Hắn không bước qua ô phấn, chỉ nhìn khay đồng rồi nhìn Tạ Uyển. Ánh mắt ấy không có vẻ kinh ngạc. Điều khiến nàng lạnh sống lưng không phải hắn biết trong lụa có gì, mà là hắn đã chuẩn bị sẵn cách gọi tên thứ ấy.
“Bản đồ phòng tuyến có bút tích Tạ Văn Khiêm,” hắn nói. “Phó Cẩn mang tên trong sổ chuyển hòm. Tạ Hành giữ giấy chép tuyến vận lương. Tạ chưởng lễ lại có mặt lúc vật được tìm thấy. Một nhà ba người, ba đầu mối, quả thật khó coi là trùng hợp.”
“Giấy trong tay Kinh Triệu là giấy mới, mực mới. Ta đã ghi ý kiến đối bút.”
“Ý kiến của người nhà không phải kết luận.”
“Cũng không phải lời nhận tội.”
Tưởng Thừa Ân nhìn nàng lâu hơn một nhịp. “Cô vẫn giống cha cô. Luôn nghĩ thêm vài chữ vào biên bản là có thể đổi được kết cục.”
Tạ Uyển siết ngón tay dưới tay áo. Hắn vừa thừa nhận mình nhớ cách cha nàng lập biên bản. Nhưng câu ấy không đủ làm chứng cứ, chỉ đủ để nàng hiểu bản đồ dưới nền không phải vật tình cờ sót lại. Có người đã giữ nó suốt mười hai năm, rồi đặt vào đúng chiếc hòm đang được dùng cho hòa thân.
Tưởng ra lệnh Kinh Triệu thu khay đồng. Tạ Uyển lập tức nói: “Vật tìm trong nội kho, mang dấu lưu Lễ bộ và nội dung quân cơ, phải tam nha đồng niêm: Kinh Triệu giữ vật, Lễ bộ nhận nguồn, Nội Lễ nhận hiện trạng kho. Thiếu một dấu, không được rời cửa cung.”
“Cô đang bị nghi, dấu của cô không thể dùng.”
“Dấu chưởng lễ không phải tư ấn của Tạ Uyển.” Nàng đặt con dấu lên án nhỏ do nữ quan mang tới. “Nếu đại nhân muốn bỏ dấu Nội Lễ, xin lập lệnh tước quyền trước mặt người chứng.”
Tưởng Thừa Ân không đáp ngay. Hắn có thể bắt nàng, nhưng chưa thể xóa cả một ty khỏi quy trình bằng một câu nói. Cuối cùng, hộp sắt đựng mảnh lụa được niêm bằng dấu Kinh Triệu, Lễ bộ và Nội Lễ. Bản trích chữ hiện trạng cũng lập ba bản; một bản theo vật, một bản vào Lễ bộ, một bản giao Mạnh cô cô lưu tại Nội Lễ ty.
Tạ Uyển cứu được mảnh bản đồ, nhưng không giữ nó trong tay. Nàng chỉ giữ được việc không ai có thể làm nó biến mất mà không phá ba lớp dấu.
Khi lớp niêm cuối vừa khô, một sai dịch Kinh Triệu mang khẩn lệnh tới. Hắn quỳ ngoài sân, đọc rõ từng chữ: do vụ cháy kho lễ, bút tích trên bản đồ và vật đang giữ từ Tạ Hành có liên hệ, Tạ Uyển tạm thời không được rời nội đình, không được gửi thư riêng; Tạ Hành tiếp tục lưu tại Kinh Triệu chờ đối chất; nha môn Đông Bình nhận trạm khẩn, lập tức đặt Tạ trạch dưới sự giám hộ, người trong nhà không được tự tiện ra vào hoặc chuyển đồ.
A Nhiễm bật ra một tiếng nghẹn. Chiêu Nghi không nhìn Tưởng, chỉ nhìn Tạ Uyển. Trong mắt nàng có lửa chưa tắt, nhưng lần này nàng không nói sẽ gánh thay, cũng không xin Tạ Uyển dừng lại.
“Lời chứng của ta về cửa bị chèn, dầu dẫn và vị trí vật dưới nền,” nàng nói, “phải đi cùng hồ sơ.”
Tưởng Thừa Ân hơi nghiêng đầu. “Điện hạ có thể khai điều mắt thấy.”
“Ta chỉ khai điều mắt thấy.”
Tạ Uyển nghe lại câu mình vừa nói với nàng. Giữa tiếng khóa xích và giấy lệnh vẫn còn một khoảng nhỏ không ai chiếm được: họ không cứu nhau bằng cách viết thay, mà giữ cho lời của người kia còn tồn tại.
Sai dịch gấp khẩn lệnh lại. Ngoài cổng kho, một kỵ mã đã nhận ống trạm đỏ, quay đầu về hướng Đông Bình. Tạ Uyển nhìn hộp sắt có ba lớp niêm được khiêng đi, rồi nhìn dấu tên cha mình còn in trong bản trích chữ trên tay nữ quan.
Suốt nhiều năm, nàng giữ đúng từng bước chỉ mong cửa nhà không bị đóng vì mình. Đến giờ Ngọ hôm ấy, Tạ gia vẫn bị quản thúc. Nhưng lần đầu tiên, cái tên Tạ Văn Khiêm không còn nằm trong một tờ nhận tội do người khác giữ. Nó đã được ghi vào sổ công, bên cạnh hai chữ “kiểm đối”, dưới mắt của tất cả những người muốn xóa nó.
