Chương 89 - Chương 89: Tần Dự Nói Lời Xin Lỗi
Chương 89: Tần Dự Nói Lời Xin Lỗi
Tần Dự nói câu ấy rất chậm, như thể mỗi chữ đều phải đi qua một lớp gai cũ mới rơi xuống được mặt bàn. Tôi nhìn ông một lúc lâu, không lập tức đáp. Trong phòng họp vừa mới có người tranh cãi về cổ phần, danh dự, quyền biểu quyết; mùi giấy mới in và cà phê nguội vẫn còn lẫn trong không khí. Vậy mà chỉ một câu xin lỗi của ông lại kéo tôi ra khỏi hiện tại, ném thẳng về rất nhiều năm trước, khi mẹ tôi còn sống, khi tôi còn nhỏ đến mức tin rằng người lớn im lặng là vì họ đang bảo vệ mình. Sau này tôi mới hiểu, có vài kiểu im lặng không phải tấm chắn, mà là chiếc khóa. Nó khóa sự thật trong bóng tối, khóa nạn nhân trong oan ức, và khóa cả người im lặng vào một đời không dám nhìn lại.
Tôi đặt tay lên tập hồ sơ mở hộp lưu trữ, hỏi: “Ông xin lỗi vì đã im lặng, hay vì bây giờ sự thật không còn giấu được nữa?” Tần Dự ngẩng đầu. Ánh mắt ông đỏ rất nhẹ, nhưng không giống người muốn dùng mệt mỏi để xin thương hại. “Cả hai,” ông nói. “Tôi xin lỗi vì năm đó đã nhận lời phu nhân Lan Uyển, nhưng không làm đến cùng. Tôi cũng xin lỗi vì phải đợi đến khi cô tự đi đến bước này, tôi mới có đủ can đảm nói hết.” Tôi cười rất khẽ, không phải vì buồn cười. “Can đảm của ông đến hơi muộn.” Ông cúi mắt. “Tôi biết. Vì vậy tôi không xin cô tha thứ. Tôi chỉ muốn cô biết phần lỗi nào thuộc về tôi, để nó không tiếp tục bị đẩy sang người đã chết.”
Ông mở cặp tài liệu, lấy ra một bản sao biên nhận đã ố vàng. Trên đó có chữ ký của mẹ tôi, ngày tháng trước tai nạn đúng năm ngày. Bên nhận là văn phòng luật sư Tần Dự khi ấy còn chưa tách riêng, con dấu mờ nhưng vẫn đọc được. “Phu nhân Lan Uyển tìm đến tôi sau khi bà ấy phát hiện bản dự thảo di chúc đầu tiên bị sao chép trái phép,” ông nói. “Bà ấy nghi trong Tạ gia có người đã biết điều khoản chuyển quyền thừa kế cho cô, cũng biết điều khoản đạo đức có thể bị lợi dụng để đánh cô sau này. Bà ấy yêu cầu tôi chuẩn bị hai lớp bảo vệ: một bản pháp lý công khai khi bà ấy rời Tạ gia, và một hộp lưu trữ chỉ được mở khi cô đủ tuổi hoặc khi Tạ gia dùng danh dự để tước quyền của cô.” Tim tôi khẽ chùng xuống. Mẹ tôi đã nhìn thấy cái bẫy rất sớm. Không phải bà không biết nguy hiểm, chỉ là những người muốn nuốt chửng bà còn nhanh hơn thời gian bà có.
“Sau tai nạn thì sao?” tôi hỏi. Tần Dự im lặng mấy giây mới đáp: “Sau tai nạn, tôi nhận được phong thư thứ hai. Phong thư đó được gửi theo chế độ chuyển phát chậm, có lẽ phu nhân Lan Uyển đã chuẩn bị trước. Trong thư, bà ấy nói nếu bà ấy xảy ra chuyện, tôi phải lập tức yêu cầu niêm phong hồ sơ di chúc, đồng thời liên hệ bên lưu ký để bảo toàn vật chứng cá nhân. Tôi đã làm nửa đầu.” Ông dừng lại, giọng khàn đi. “Tôi niêm phong được một phần hồ sơ, nhưng khi chuẩn bị công khai, Tạ Kính Hòa cho người đến gặp tôi. Họ biết địa chỉ nhà tôi, biết vợ tôi đang mang thai, biết cả bệnh viện nơi mẹ tôi điều trị. Họ không nói sẽ làm gì. Họ chỉ đặt mọi thứ lên bàn, rồi hỏi tôi có chắc mình muốn biến một vụ tai nạn gia đình thành tranh chấp pháp lý hay không.”
Tôi nghe đến cái tên Tạ Kính Hòa, lòng không còn chấn động như lần đầu. Có lẽ vì sau quá nhiều chứng cứ, một cái tên đã từ bóng đen biến thành hình người cụ thể; đáng sợ hơn, nhưng cũng dễ bị đưa ra ánh sáng hơn. “Vậy ông chọn bảo vệ gia đình mình.” Tần Dự gật đầu. “Tôi chọn. Và tôi đã tự nói với mình rằng chỉ là tạm thời. Tôi nói đợi con tôi sinh ra bình an, đợi mẹ tôi qua đợt điều trị, đợi Tạ gia bớt căng, đợi cô lớn hơn, đợi thời cơ an toàn hơn. Nhưng sự thật là thời cơ an toàn không tự đến. Càng đợi, tôi càng quen với việc gọi hèn nhát là thận trọng.” Ông đẩy bản sao biên nhận về phía tôi. “Nếu năm đó tôi công khai sớm hơn, ít nhất cô đã không bị họ nuôi trong một cái lồng giả làm nhà lâu như vậy.”
Tôi không nói “không sao”. Câu ấy quá rẻ đối với mười mấy năm bị đánh cắp, đối với một người mẹ đã chết, đối với một đời trước mà tôi từng bị đẩy đến đường cùng. Nhưng tôi cũng không ném lời trách móc vào mặt ông như một con dao. Có những tội lỗi phải giao cho pháp lý; có những món nợ phải để người mắc nợ tự mang tiếp. Tôi chỉ hỏi: “Trong phong thư thứ hai còn gì?” Tần Dự lấy ra một phong bì mỏng, cạnh đã được ép plastic bảo quản. “Bản gốc nằm trong hộp lưu trữ. Đây là bản sao tôi giữ lại trái quy định, vì khi đó tôi sợ một ngày nào đó ngay cả hộp lưu trữ cũng bị xóa mất. Trong thư, phu nhân Lan Uyển nhắc đến một dự thảo tên là Quỹ Lan Uyển. Bà ấy muốn dùng một phần tài sản riêng lập quỹ hỗ trợ pháp lý cho phụ nữ và trẻ em bị ép im lặng trong tranh chấp gia đình hoặc doanh nghiệp gia tộc.”
Ngón tay tôi dừng trên mép phong bì. Trong lá thư trước, mẹ bảo tôi sống đời mình, đừng để hận thù trở thành nhà mới. Còn trong bản thảo này, bà đã chuẩn bị một con đường để những người giống bà không chỉ được thương hại sau khi mọi chuyện đã quá muộn. Tôi bỗng hiểu vì sao chương trình tái cấu trúc sáng nay khiến tôi khó chịu đến vậy. Tạ gia từng dùng gia quy để biến nạn nhân thành người phải biết điều. Mẹ tôi muốn dùng luật và tiền của chính bà để cho những người bị ép im lặng một cánh cửa đi ra. “Ông nên đưa cái này ra sớm hơn,” tôi nói. Tần Dự đáp rất nhỏ: “Tôi biết.” Tôi nhìn ông. “Nhưng từ hôm nay, ông không được dùng việc chuộc lỗi làm lý do quyết định thay tôi. Mọi tài liệu của mẹ tôi, mọi phương án công bố, mọi bước pháp lý tiếp theo, tôi là người ký cuối cùng.” Ông gần như không do dự. “Đương nhiên.”
Buổi chiều, chúng tôi đến trung tâm lưu ký ở phía nam thành phố. Cố Trầm Chu đã chờ dưới sảnh từ lúc nào. Anh mặc áo khoác đen đơn giản, trên tay chỉ cầm một túi hồ sơ mỏng. Thấy tôi đi cùng Tần Dự, anh không hỏi cuộc xin lỗi đã kết thúc thế nào, cũng không thay tôi nhìn ông bằng ánh mắt phán xét. Anh chỉ bước đến, hỏi: “Em muốn anh vào cùng không?” Tôi nhìn thang máy phản chiếu gương mặt mình: hơi tái, nhưng không còn giống người sắp bị kéo vào một phiên xử. “Vào cùng tôi,” tôi nói. “Nhưng để tôi mở.” Cố Trầm Chu gật đầu. “Ừ.” Một chữ rất nhẹ, nhưng lại khiến bàn tay đang cầm chìa khóa bạc của tôi bớt lạnh.
Phòng mở hộp lưu trữ nhỏ hơn tôi tưởng. Tường trắng, camera an ninh, một chiếc bàn dài và nhân viên lưu ký ngồi đối diện kiểm tra từng lớp giấy tờ. Khi chìa khóa bạc tra vào ổ, âm thanh kim loại vang lên khô khốc. Tôi từng nghĩ giây phút này sẽ giống một cảnh phim: ánh sáng rọi xuống, bí mật mở ra, mọi oan khuất lập tức có câu trả lời. Nhưng thực tế chỉ là một chiếc hộp thép cũ, vài phong bì được đánh số, một cuốn sổ bìa xanh, một chiếc kẹp tóc ngọc trai đã hơi xỉn màu và một tấm ảnh mẹ tôi bế một đứa bé quấn khăn trắng. Đứa bé ấy chắc là tôi. Tôi nhìn rất lâu, lâu đến mức mắt cay lên, rồi mới đưa tay chạm vào mép ảnh. Hóa ra trước khi tên tôi bị sửa, trước khi người khác bảo tôi phải nhường, tôi từng được mẹ ôm chắc như vậy.
Tần Dự đứng cách bàn một bước, không thúc giục. Cố Trầm Chu cũng im lặng. Tôi mở cuốn sổ bìa xanh trước. Nét chữ của mẹ thanh và đều, có những đoạn ghi chú về cổ phần Hạ gia, có danh sách luật sư độc lập, có dự thảo điều lệ Quỹ Lan Uyển. Giữa những trang giấy ấy, một dòng chữ được gạch dưới hai lần: “Không giúp con bé trở thành người thắng trong một ngôi nhà mục nát. Hãy giúp nó có quyền rời khỏi ngôi nhà đó mà vẫn là chính mình.” Tôi cúi đầu, phải mất một lúc mới hít thở bình thường. Mẹ tôi chưa từng muốn tôi đội vương miện Tạ gia. Bà chỉ muốn tôi không bị họ biến thành thứ tài sản có thể chuyển nhượng.
Phong bì cuối cùng nằm dưới đáy hộp, không đánh số, chỉ ghi bằng chữ nhỏ: “Nếu trong nhà còn một đứa trẻ khác bị dùng làm quân cờ.” Tôi khựng lại. Tần Dự cũng nhìn thấy dòng chữ ấy, sắc mặt biến đổi rất nhẹ. Tôi mở phong bì. Bên trong không phải thư dài, mà là bản sao một hồ sơ hộ tịch tạm, một phiếu nhận nuôi chưa hoàn tất và một tờ ghi chú về tuyến chuyển viện ra khỏi Lăng Thành mười tám năm trước. Cái tên trên giấy không phải Tạ Minh Châu, nhưng ngày sinh, nhóm máu và dấu xác nhận bên lề khiến tôi lập tức hiểu mẹ đang chỉ về ai. Tạ Minh Châu không vô tội. Cô ta đã cướp, đã diễn, đã hại tôi. Nhưng có lẽ trước khi trở thành thiên kim giả, cô ta cũng từng là một đứa trẻ bị người lớn đặt lên bàn cờ.
Điện thoại của tôi rung lên đúng lúc ấy. Là Kỷ Sơ. Tôi nhận máy, nghe giọng cô ấy trầm hơn thường ngày: “Vãn Ninh, tôi vừa nhận được tin từ người ở sân bay. Minh Châu đã đặt vé rời Lăng Thành tối nay. Đi một mình, không dùng tên Tạ gia, cũng không báo với truyền thông.” Tôi nhìn tờ hồ sơ trong tay, rồi nhìn dòng chữ mẹ để lại trên phong bì. Bên ngoài cửa kính, trời chiều đang xuống rất chậm, màu nắng cuối ngày nhạt đến mức gần như trong suốt. Tôi cứ tưởng chiếc hộp này chỉ trả lại cho tôi phần còn thiếu của mẹ. Không ngờ nó còn đặt trước mặt tôi một câu hỏi khác: khi một quân cờ đã tự bước khỏi bàn, tôi sẽ để cô ta đi như một kẻ thua cuộc, hay buộc cô ta nói nốt phần sự thật mà người lớn đã giấu từ đầu?
